Phác thảo diện mạo hò khoan Lệ Thủy (Phần 2)

0
2255

Lệ Thủy là vùng đất có lịch sử gắn liền với lịch sử phát triển của đất Văn Lang, Âu Lạc. Từ trước công nguyên, đất này thuộc Nam Việt trong hệ thống Bách Việt phía Nam sông Dương Tử. Từ năm 206 trước công nguyên thuộc quận Nhật Nam. Năm 137 sau công nguyên, một thủ lĩnh người Chăm là Khu Liên đã nổi dậy, chiếm cứ từ phái nam Hoành Sơn lập quốc Chiêm Thành. Lệ Thủy là một châu thuộc đất Chiêm Thành, khi đó còn gọi là châu Địa Lý. Trải các đời từ khởi nghĩa Hai Bà Trưng đến Ngô Quyền, Đinh, Lê, Lý của Vạn Xuân, Đại Việt, Lệ Thủy vẫn là đất phên dậu của Chiêm Thành.  Tiếng nói, chữ viết mang dấu ấn của văn hóa Mã Lai, Ấn Độ trải gần một nghìn năm. Mãi đến năm 1069 Lý Thái Tổ mới chinh phạt Chiêm Thành, lấy ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh sáp nhập vào Đại Việt. Từ đó Lệ Thủy mới về đất Việt. Trãi mấy trăm năm từ khởi thủy là Điạ Lý rồi Nha nghi, Tri Kiến, Khương Lộc, Lệ Thủy. Khi thì Phủ, rồi Châu, Quận, Dinh, Trại, Huyện một bộ phận hành chính của đất Lâm Bình rồi Tân Bình, Tiên Bình, Quảng Bình, chia đi nhập lại nhưng không gian địa lý vẫn kéo từ phía bắc giáp với sông Nhật Lệ chạy dài 40 cây số đến dãy núi Ba Núc, Ba Kiềng như một hoành sơn nhỏ phía Nam, kéo từ Trường Sơn ra Bàu Sen, truông Nhà Hồ.

tin tuc quang binh, hò khoan lệ thủy
Hò khoan Lệ thủy

       Văn hóa vùng đất này là sự pha trộn của hai dòng văn hóa Chăm – Việt. Của cộng đồng dân di cư từ đàng ngoài, mà chủ yếu là từ Châu Hoan (Nghệ An), Châu Ái (Thanh Hóa) vào khai khẩn đất đai, định cư, phát triển với cư dân bản địa (Chăm Pa). Ở đây có cả thành quách của Chăm Pa với các làng nghề Đại Việt. Là vùng giao thoa ảnh hưởng của văn hóa, tín ngưỡng Ấn Độ từ phiá Nam lên và Văn hóa, tín ngưỡng Nam Việt, Trung Hoa từ phía Bắc xuống. Ngôn ngữ, tiếng nói gần với vùng Hoan, Ái pha trộn với từ địa phương có gốc gác từ tiếng Chăm.
– Lệ Thủy là đất phên dậu, biên trấn của cả Đại Việt và Chiêm Thành. Trong lịch sử hình thành ngót nghìn năm, ở đất này đã có đến 500 năm chiến tranh. Mở đầu là chiến tranh giữa Đại Việt với Chiêm Thành, mất đi giành lại ba châu Bố Chính, Địa Lý, Ma Linh trong suốt 320 năm (từ 1069 – 1389). 7 cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn phân tranh kéo dài 45 năm (1627 – 1672). Chiến tranh chống Pháp ngót 100 năm (1847 – 1954). Chiến tranh chống Mĩ 18 năm. Lúc nào nơi đây cũng ở mũi tên, đầu đạn. Hết bắt phu, bắt lính lại tan cửa nát nhà vì bom đạn. Đình chùa, miếu mạo sụp đổ, cái ăn chẳng còn, nói gì đến của để dành mà vui chơi, ca hát. Trai tráng hết lớp này, lớp khác ra trận, đi thì nhiều, về thì ít. Học hành của con trẻ cũng phải xuống hầm sâu.
       Chính trong đạn lửa ấy đã hun đúc nên khí phách người Lệ Thủy trung dũng, quật cường. Ở thời nào trong lịch sử chiến tranh của dân tộc củng có những người con bất khuất của Lệ Thủy. Lèn Áng từ cổ chí kim được chọn làm căn cứ kháng chiến. Bến sông Dinh Trạm là nơi neo đậu của chiến thuyền ngày ngày tập trận tiếng trống, tiếng tù và hãy còn vang. Dinh Mười nơi đồn trú thủy bộ mặt sau của lũy Thầy, ngựa xe, thuyền bè, cờ xí rợp trời Hạc Hải. Xuân Bồ còn đó khắc ghi căm thù giặc Pháp tàn sát dân lành cùng trận đánh lừng danh của quân và dân Lệ Thủy. Chiến tranh chống Mĩ cả nước biết đến một Lệ Thủy với phong trào “Hai giỏi” (sản xuất giỏi, chiến đấu giỏi), “tiếng hát át tiếng bom”. Những cô gái Ngư Thủy gan góc đối mặt với tàu chiến Mĩ. Thác Cốc, Dốc Khỉ, Vít Thù Lù…bom dạn hủy diệt của B52 không làm chùn bước gái trai Lệ Thủy quyết tử cho tổ quốc. Đã có thời gian, dân Lệ Thủy phải bầm ruột, tím gan gởi con trẻ ra tận Thanh Hóa, Thái Bình để bảo toàn nòi giống. Người ở lại rảnh tay đánh giặc giữ đất quê hương.                              
Trong những biến cố nói trên, người dân Lệ Thủy phải chịu bao cay cực. Chiến tranh là chết chóc, tan cửa, nát nhà, chia ly. Thiên tai là mất mùa, trắng tay, đói kém. Đồng sâu, nước cả, hạn hán, lũ lụt, lao động nhọc nhằn. Vậy nhưng vẫn phải sống, vẫn phải tròn bổn phận. Những tâm tư đó đã được gửi gắm vào trong dân ca mà than thở, mà san sẻ. Đó chính là cội nguồn cảm hứng của hò khoan Lệ Thủy.
       – Lệ Thủy, eo đất hẹp mà có cả ba vùng biển, đồng bằng, núi non biên giới. Đất đai trù phú nhưng khí hậu khắc nghiệt như thử thách lòng người. Nếu tính theo đường chim bay thì từ bờ biển đến biên giới Việt – Lào chỉ có 40 cây số. Song, trên dải đất hẹp ấy lại có cấu hình địa chất, thủy văn hết sức đặc biệt. Đối diện với biển khơi là  những cồn cát trắng. Cát cao thành đồi hàng chục mét, chạy dài suốt bờ biển, thành lũy Trường sa. Cát bay, cát chạy lấp ruộng, lấp vườn nhưng trong nó trào dâng mạch nước ngầm vô tận, ngọt lịm, trong vắt. Nước ngầm tạo nên cả Bàu Sen rộng hàng chục héc ta ngay cạnh biển mặn mòi.
Ít ai ngờ rằng ở quãng hẹp ấy, lại có một đồng bằng phì nhiêu ngút tầm mắt, thẳng cánh cò bay, hàng triệu năm nay được bồi đắp bằng phù sa được chở về từ Trường Sơn bằng 9 ngọn nguồn của sông Kiến Giang (rào Nậy, rào Con, rào Sen, rào Mĩ Sơn, hói Xuân Lai, hói Thạch Bàn, hói Kỳ Cùng, hói Cừa, hói Phú Thọ). Trước khi đổ ra biển khơi, Kiến Giang còn cố nán lại, xoãi ra thành biển cạn Hạc Hải rộng hàng chục ngàn héc ta, dung dưỡng biết bao sản vật vùng nước lợ, góp phần nuôi sống dân Lệ Thủy.
Người Lệ Thủy trong lịch sử ít khi đi bộ, phương tiện di chuyển chủ yếu bằng thuyền. Đi làm ruộng – thuyền, lên rừng lấy gỗ – thuyền, đi chợ – thuyền, đi buôn chuyến – thuyền, đò dọc đưa người ta về tận Đồng Hới. Đến lúc chết đưa linh cũng bằng thuyền nốt. Sông nước chằng chịt, mênh mông vạn khoảnh. Cứ ra khỏi nhà là gặp sông, quanh làng là sông. Năm nào cũng vậy, cứ sau tiểu mãn là mưa lớn dội xuống Trường Sơn, tràn về dâng nước mênh mông. Đến cái nhà cũng phải có kiểu kiến trúc để thích ứng với lũ. Phải có cái “tra” để thóc, làm sàn ngủ khi nước lên. Vách nhà trát bằng rơm với đất để lụt dâng đến đâu thì rơi đến đó. Nhà giàu thì dựng ván đố để khi lụt thì tháo đi, đỡ cản sóng. Nước rút đi thì nhào đất lại, trát lên, dựng ván lại làm vách. Hình ảnh con thuyền gắn liền với con người. Khi chèo thuyền người ta hò cho khuây khỏa.
Đất đai trù phú thật như câu ca “Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện”. Song để có hạt thóc cho con người thì cũng lắm gian nan, bởi ở vùng đất này khí hậu vô cùng khắc nghiệt. Mùa hè bỏng rát gió lào, ngùn ngụt, hầm hập hơi nóng. Gió nóng thổi như bão suốt mấy tháng trời đến sông hồ khô cạn. Mùa thu bão vùi dập, mưa trút xuống dâng lụt mênh mông. Lúa mùa đang chín mà không kịp gặt. Lại phải ngâm mình trong nước vớt từng chẹn lúa đã lên mầm, bát cơm hôi nồng như vôi bột. Đông đến thì rả rích mưa dầm. Mưa từ sáng đến chiều, từ chiều qua sáng. Mưa lùa hơi lạnh thấm nặng quần áo, lạnh buốt ruột gan.
Trên cao là dãy Trường Sơn thâm u với những địa danh Bang, Rợn, Vít Thù Lù, Lèn Bạc, An Mã, Đâu Mâu. Mỗi địa danh ấy đều gắn với những truyền thuyết, giai thoại về địa linh, nhân kiệt, neo đậu lại trong trí tưởng tượng của con người mà ví von. Neo lại trong lời ru của bà, của mẹ.
Vậy đấy, nhưng con người nơi đây luôn vươn tới, vượt lên số phận. Phải tìm cách động viên nhau ngay cả khi lao động cực nhọc. Hò khoan giúp họ khuây khỏa, hò khoan giúp họ vui mà yêu đời. Hò khoan trở thành nếp sống văn hóa không thể thiếu. Chẳng ở đâu như Lệ Thủy, vui mà hò hát đã đành, đằng này cái thú được hò hát len vào cả khi buồn, khi lao động mệt nhọc. Điều đó giúp hò khoan sống mãi, một ngày một phong phú thêm.
– Lệ Thủy địa linh nhân kiệt. Kể ra thì đất và người từ thuở khai thiết đến nay mới có ngót nghìn năm (kể từ thời nhà Lý thu về Đại Việt). Chiến tranh, thiên tai vùi dập cũng không khuất phục được ý chí con người nơi đây. Trong gian khó ấy đã sinh ra nhiều nhà nho học uyên thâm, những quan lại thanh liêm dấn thân vì nghĩa, những vĩ nhân kinh bang tế thế.
Có lẽ đất này hội tụ nhiều linh khí “Đâu Mâu vi bút, Hạc Hải vi nghiên”. Mỗi ngã ba sông cũng tạo thế đất “Mũi viết”. Đi đâu, ở đâu thì người Lệ Thủy vẫn lấy câu đó, hình tượng đó mà tự hào về đất học. Bút nghiên là sự trọng, có học thì mới thoát khỏi đói nghèo. Vậy nên người Lệ Thủy thành đạt nhiều lắm. Danh nhân Lệ Thủy có đủ cả văn, võ. Ai trong họ cũng có cái chí bất khuất, nặng nỗi ưu tư vì dân vì nước. Từ những sĩ phu như Hoàng Hối Khanh, Phạm Đại Kháng, Dương Văn An, Nguyễn Hữu Cảnh, Võ Khắc Triển…tiến sĩ nho học và rất nhiều phó bảng, cử nhân khác. Chỉ riêng thời nhà Nguyễn đã có đến 9 vị làm đến Thượng thư nổi tiếng thanh liêm. Đấng nam nhi là vậy, còn có cả  Liệt nữ Hoàng Thị Tám là tướng tài trong phong trào cần vương của cụ Phan Đình Phùng. Và đặc biệt có hai nhân vật ở hai đầu chiến tuyến là Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Tổng thống Ngô Đình Diệm. Còn nhiều và nhiều nữa những người học rộng tài cao nức tiếng một huyện, một tỉnh, một nước, vượt ra cả ngoài biên giới. Nhiều người trong số họ, với cái khí khái của nhà nho, gặp khi nhiễu nhương không ra làm quan mà chỉ ở nhà mở lớp dạy chữ, truyền bá đạo lý thánh hiền. Những con người này đã có công lớn trong sáng tạo, truyền bá, bảo tồn di sản dân gian ở chốn thôn quê. Giả như ông Học Chè Lê Văn Khoan ở Lộc An, cụ Châu Đình Khóa ở Sơn Thủy đã sáng tác, lưu giữ rất nhiều hò vè.
– Lệ Thủy tích chứa trong mình một kho tàng văn học dân gian khá phong phú. Đã bao đời nay, cái kho tàng vô giá ấy là nguồn nuôi dưỡng tinh thần, có tác dụng khơi nguồn bồi đắp những tâm hồn văn học tài năng của quê hương. Không ở đâu trên đất Quảng Bình mà nhiều nhà thơ như Lệ Thủy. Cái máu thơ trong họ chắc có mạch nguồn từ máu dân ca của cha ông.
Trên đất này có đủ các loại hình văn học dân gian. Song nổi trội vẫn là hò khoan. Hò khoan có mặt ở mọi  ngõ ngách của cuộc sống từ việc lớn đến việc nhỏ. Đám cưới hò khoan đã đành, đám ma cũng hò khoan, hò để xua đi nỗi buồn, hò để nói với linh hồn người chết rằng, người sống biết ơn họ, đau đớn vì cái chết của họ. Chèo thuyền trên sông hò khoan chưa đã còn bày ra chèo cạn. Giã gạo hò khoan, hết gạo còn nghĩ ra chuyện đổ trấu vào giã. Cày bừa, cấy lúa , đạp nước trên đồng – hò khoan, kéo gỗ trên rừng – hò khoan, nện đất, giã vôi – hò khoan, cất nhà, kéo lưới, đẩy thuyền – hò khoan… Tất tần tật cái gì cũng hò khoan được, ở đâu cũng hò khoan được. Chẳng cần đàn sáo nhị hồ rinh rang làm gì, chỉ cần một cái trống hoặc cái sanh, mà không trống sanh thì vỗ tay bắt nhịp, vậy là hò khoan được rồi. Vậy nên mới dám nói hò khoan là đặc trưng của Lệ Thủy.
Đành rằng, không thể biệt lập địa danh cho văn học dân gian. Bởi văn học dân gian có sự giao thoa rất rộng do quá trình di dân. Cư dân nơi này đến nơi kia lập nghiệp thì mang theo văn hóa vùng quê mình. Đến nơi mới, hòa nhập với văn hóa bản địa nó có sáng tạo thêm cho khác đi một ít do nhiều lý do. Nhưng, có thể làm rõ được sự nổi trội của mỗi thể loại ở từng vùng khác nhau. Nói đến Kinh Bắc là nghĩ đến quan họ. Nói đến Phú Thọ là nói hát xoan. Nói đến Hà Nam là nghĩ đến chèo. Nhắc đến Nghệ Tĩnh là nhớ ví, dặm. Nhắc đến Huế là liên tưởng đến các điệu lý, Quảng Nam là bài chòi… Còn ở Lệ Thủy, Quảng Bình là hò khoan. Hò khoan đã có ngày hội truyền thống của mình. Đó là ngày 29 tháng 2 âm lịch. Cái này, ngoài quan họ ra, chắc nhiều thể loại khác chưa có.
Tóm lại, chỉ một đoạn ngắn trong chiều dài của đất nước, thiên nhiên khắc nghiệt, chiến tranh liên miên. Nhưng nhờ những con người lam lũ mà lại hiếu học, yêu đời, Lệ Thủy đã có cho riêng mình một di sản hò khoan vô cùng quý giá. Với người Lệ Thủy, dẫu có đi đâu, ở đâu, hai tiếng hò khoan vẫn vọng lên trong tâm hồn họ, lan truyền sang mọi người những cảm nhận về quê hương, về khát vọng sống tự do, về những buổi lao động nhọc nhằn của người nông dân lam lũ, một nắng hai sương. Dẫu trong khó khăn, cùng cực vẫn thuần hậu, mặn mà tình người. Vẫn ngân nga trong lòng những ao ước hạnh phúc rất khiêm tốn “râu tôm nấu với ruột bầu” để chồng chan, vợ húp.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here