Phác thảo diện mạo hò khoan Lệ Thủy( phần11)

0
7856

 3.2 Giá trị nghệ thuật của hò khoan Lệ Thủy.
Như đã nói ở trên, nội dung của hò khoan đã được lồng vào những hình thức nghệ thuật nhiều hình, nhiều vẻ qua các làn điệu, lối hò. Thế nhưng, ngay trong từng làn điệu, lối hò ấy cũng còn nhiều vấn đề về nghệ thuật đáng chú ý nữa.

>>Phác thảo diện mạo hò khoan Lệ Thủy( phần10)

>>Phác thảo diện mạo hò khoan Lệ Thủy( phần9)
– Trước hết, hò khoan có giá trị giữ nhịp tiết tấu cho lao động. Như đã nói ở trên, hò khoan hình thành trong lao động, là sản phẩm của người lao động nên trước hết nó là thứ giúp ích cho lao động. Bởi vậy, chúng ta thấy các mái hò trong hò khoan luôn gắn liền với một loại hình lao động đặc trưng như giã gạo, chèo thuyền, kéo gỗ, đẩy thuyền, nện đất, cất nhà, cày ruộng, đạp nước… Chỉ cần bắt tay vào hoạt động lao động nào đó là như đã có sẵn giai điệu, tiết tấu định hình rồi. Chẳng hạn, chèo thuyền thì mái chèo phải có thời gian để buông xuống, đẩy tới, cất lên nên mỗi nhịp lao động đó kéo dài khiến người ta không thể hò mái xắp được mà phải dùng mái ruổi, mái ba. Khi nện đất tiết tấu nhanh đều của nhịp chày, nhịp cái “bê” khiến người ta phải dung đến mái nện, mái xắp. Khi giã gạo chày đôi, chày tư người ta dung mái xắp, mái nện… Rồi từ những tiết tấu cơ bản đó, trong quá trình lao động con người đã sáng tạo thêm những điệu hò “lĩa trâu”, hò “khơi”… mỗi khi tiếng hò cất lên là báo hiệu một hiệu lệnh rập ràng cho một động tác lao động, làm cho nó mạnh thêm, hăng hái thêm. Hành động lao động rập ràng, cộng hưởng ở chỗ vế xố. Hay nói cách khác, vế xố có giá trị như một hiệu lệnh cho nhịp lao động. Như đã nói ở phần trên, trong diễn xướng hò khoan có sự phân công, cái hò, con xố. Hò cái chỉ là một người lĩnh xướng, còn hò con là cả tập thể. Vậy nên, khi ra hiệu lệnh cho nhịp lao động, hò cái có vai trò cầm chịch, ra lệnh. Hò con xố, hùa theo kết hợp với nhịp động tác lao động. Nghệ thuật với lao động hòa quyện với nhau làm cho không khí lao động vui vẻ, khỏe khoắn.         

ho khoan le thuy, quang binh
Hò khoan Lệ Thủy

– Về mặt cấu ý, do kết cấu mở của giai điệu hò, người ta chỉ chú ý đến những câu vào hò để cho đế, xố và những câu kết của hò. Cho nên, mỗi câu hò có thể dài ngắn tùy ý theo nội dung định nói, định diễn tả. Thường thì một câu hò khoan có kết cấu thể lục bát hoặc song thất lục bát. Song có những câu hò phá lệ được chắp nối nhiều ý xen vào giữa và giữ nhịp điệu tái lại nhiều lần trước khi vào câu kết. Chẳng hạn câu hò sau đây được coi là một trong những câu dài nhất trong kho tàng hò khoan Lệ Thủy.
“Phụ mẫu em đòi chi anh đây đi cũng đủ
Lưng hũ hột xoài lưng oi hột mít;
một bì khoai lang một sàng bánh tổ;
một ổ gà ung một thùng mắm thúi;
một trịu cá rô một ang gạo thóc; một bọc chè tươi!
Em về thưa với song thân phụ mẫu,
Đến tối hai mươi anh sang nhà”
Hay câu:
“Trong trăm thứ dầu hỏi có dầu chi là dầu không thắp
Trong trăm thứ bắp hỏi có bắp chi là bắp không rang
Trong trăm thứ than hỏi có than chi là than không quạt
Trong trăm thứ bạc hỏi có bạc chi là bạc không tiêu.
Trai nam nhi đối đặng, dãi lụa điều em trao.
Cách biến tấu đó được dùng nhiều và rất nhuần nhuyễn trong các làn điệu hò khoan Lệ thủy. Điều này tạo ra lợi thế cho người hò khi đối đáp. Người ta chỉ cần có cái ý và cứ thế lên bổng xuống trầm có tính “câu giờ” để tìm ra câu kết cho đặc sắc.
Cái ý tứ trong hò khoan rất đa dạng. Đôi khi ý tứ sâu xa phải hiểu theo nghĩa bóng. Nhất là trong những câu hò “Bồn ba”, một lối hò ví von lấy chuyện trồng hoa, xây bồn để nói cái ý tục. Như câu:
“Chân bước đến vườn đào tay xang qua bông thọ
Dặn coi rồi để đó cho em
Đừng nên vin hoa hái lá, mang tiếng pha dèm khổ thân.”
Đôi khi câu hò như một đoạn văn tả thực nhưng lại lựa chọn từ ngữ để lấy nhạc điệu trong từ ngữ tiếng Việt để tăng thêm hiệu ứng cho ý.
“Tay cầm một nạm hương cây tắt cây đỏ
Tay cầm một nạm cỏ cây héo, cây khô
Tay ôm nấm tay lại thoa mồ
Sanh như hà tử như thị biết đời mô chộ chồng”

-Về nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, hò khoan Lệ Thủy rất độc đáo. Bởi tính ước lệ về giai điệu, lớp mái nên người hò có thể tự do sáng tạo trong lựa chọn ngôn ngữ. Chúng ta bắt gặp trong hò khoan nghệ thuật ẩn dụ, hoán dụ, nói lái, nhân hóa hay cách sử dụng nhuần nhị nhiều thành ngữ, tục ngữ, từ địa phương, từ đồng âm dị nghĩa. Sự kết hợp bởi lời thơ với tiếng đệm, tiếng lót, tiếng láy đạt đến đỉnh cao.
“Hỏi anh chi sắc hơn dao
Chi sâu hơn biển, chi cao hơn trời”
Hay dùng cái cách nói lái
“Bánh đầy mâm răng gọi là bánh ít
Lửa không miệng răng lại nói lữa cười”
Lời đối đáp sản sinh ra từ cuộc sống lao động và nghệ thuật tập thể, từ nhu cầu trao đổi tình cảm trong những khung cảnh nhất định nên nó rất mộc mạc. Tuy vậy, cấu ý của nó lại rất gần với ca dao, tục ngữ nên nó mang hơi thở của hồn thơ dân gian. Là nhịp cầu nối ca dao, dân ca với thơ trữ tình.
Cũng có những lối hò đố để đấu trí, đối đáp đòi hỏi bạn hò phải có vốn sống, vốn ngôn ngữ phong phú mới đối kịp, nhất là những lúc nhịp điệu tiết tấu nhanh trong những câu sáu tám mà người ta dùng những từ đồng âm, dị nghĩa, đồng nghĩa, dị âm .
 “Con bò vàng ăn hòn núi bạc,
Con chằng hương núp bóng cây đèn”
“ Con mèo nằm đám lúa miêu,
Hùm nằm đất hổ, tượng trèo cồn voi”

Hay người ta dùng lối nói lái của Lệ Thủy:
“Con mỏ kiến đậu trên miếng cỏ,
Con vàng lông đậu giữa vồng lang”
“Con cá đối nằm trên cối đá,
Mèo cụt đuôi nằm mút đuôi kèo”

Thể thơ phổ biến được sử dụng trong hò khoan là lục bát và song thất lục bát. Trong thể lục bát có cả lục bát chỉnh thể là lục bát biến thể. Cách gieo vần thì vẫn chu chỉnh nhưng khi hò người ta thêm vào những từ đệm, liên từ rằng, mà, thì, là hay những đại từ nhân xưng chàng, thiếp, anh, em… để chỉnh nhịp. Trong thể song thất lục bát cũng vậy, lối dùng từ đệm khá phổ biến. Cùng với đó là cách lặp lại vế hò ở câu tám cuối cùng như là một nhấn mạnh. Sự uyển chuyển về nhịp điệu của vần lưng, vần chân, vần bằng, vần trắc làm cho câu hò nương tựa, quấn quýt vào nhau. Nó vừa giữ nhịp cho hò đối đáp, mà phổ biến là trong mái xắp, để diễn tả tình cảm.

Bác Đặng Ngọc TuânQuảng Bình Today

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here